Cần phải xử lý nước ngầm hiệu quả

Kỹ thuật và công nghệ lọc nước ngầm

Các công trình thu loc nuoc ngầm

Giếng khoan

Giếng khoan là công trình thu lọc nước ngầm mạch sâu với công suất trung bình và lớn, có độ sâu vài chục đến vài trăm mét và đường kính giếng Tùy thuộc vào lưu lượng cần khai thác. Giếng khoan gồm có: giếng khoan hoàn chỉnh (khoan tới lớp cách nước ) và giếng khoan không hoàn chỉnh (khoan lưng chừng đến lớp đất chứa xử lý nước ) giếng khoan có áp và chưa áp. Khi cần khai thác một lượng nuoc lớn, người ta có thể dùng một nhóm giếng khoan, tuy nhiên trong trường hợp này các giếng sẽ bị ảnh hưởng lẫn nhau khi làm việc đồng thời.

hệ thống thu nước ngầm tầng nông

Đây là loại công trình dùng để thu loc nuoc ngầm mạch nông ở những nơi xu ly nuoc ngầm sâu bị nhiễm mặn, việc đào giếng khó khăn.

Đường ống thu xu ly nuoc bao gồm một hệ thống ống thu loc nuoc đặt nằm ngang dạng đục lỗ hoặc dạng xẻ rãnh ở đường ống, đặt trong lớp đất có chứa loc nuoc , có độ dốc để lọc nước tự chảy về giếng tập trung, từ đây có thể dùng gào múc hoặc máy bơm để lấy xử lý nước . Để ngăn chưa cho cát chui vào bên trong ống thu nuoc , người ta thường xếp đá dăm, cuội, sỏi xung quanh ống.

Trên đường ống đưa loc nuoc về giếng tập trung, cứ khoảng 25-30m phải bố trí một giếng thăm để kiểm tra nước , lấy cặn và thông hơi.

Phương tiện lấy lọc nước từ giếng lên

Để lấy loc nuoc từ giếng lên người ta thường sử dụng gầu múc nước bằng tay (với các giếng đào khơi) hoặc các loại bơm giếng khác nhau.

Một trong những bơm giếng phổ biến nhất ở vùng nông thôn là giếng bơm tay theo mô hình của UNICEF. Để bơm nước từ các giếng khoan qui mô nhỏ, người ta thường sử dụng các loại bơm ly tâm hoặc hệ thống nén khí. Đối với các giếng khoan qui mô công nghiệp, người ta thường sử dụng bơm hỏa tiễn.

Tính toán thủy lực giếng lấy lọc nước ngầm có thể chia ra: giếng đơn chiếc (không chịu ảnh hưởng của các giềng bơm khác), và nhóm giếng bơm, với sơ đồ bố trí có quan hệ thủy lực với nhau.

Công trình lọc sắt, mangan

Các cách thức khử sắt, mangan trong nước ngầm

Khử sắt, mangan bằng phương pháp làm thoáng

Sắt, Mangan trong nuoc thường tồn tại ở dạng Fe2+, Mn2+ Bởi vậy vậy muốn loại chúng ra khỏi nước cần oxy hóa chúng thành muối Fe3+, Mn4+ ở dạng ít tan rối dùng cách thức lắng, lọc dể giữ quy trình sản xuất nước tinh khiết chúng lại và loại chúng ra khỏi nước . Muốn oxy hóa Fe2+ thành Fe3+, Mn2+ thành Mn4+ người ta thường sử dụng cách thức làm thoáng tự nhiên hay cưỡng bức (các dàn mưa hay quạt gió). Thực chất của phương pháp làm thoáng là làm giàu oxy cho xử lý nước , tạo điều kiện cho Fe2+ oxy hoá thành Fe3+ sau đó Fe3+ thực hiện quá trình thủy phân để tạo thành hợp chất ít tan Fe(OH)3,Mn2+ thành MnO2 rồi dùng bể lọc để giữ lại.

Khử sắt,mangan bằng cách thức dùng hóa chất

Khử sắt,mangan bằng chất oxy hóa mạnh

– Các chất oxy mạnh thường dùng để khử sắt là: Cl2, KMnO4, O3…So sánh với phương pháp khử sắt bằng làm thoáng ta thấy, dùng chất oxy hóa mạnh phản ứng xảy ra nhanh hơn, pH môi trường thấp hơn (pH<6). Nếu trong xử lý nước có tồn do các hợp chất như: H2S, NH3 thì chúng sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình khử sắt,mangan.

Các cách thức khác để khử sắt và mangan

Khử sắt,mangan bằng phương pháp trao đổi ion

Việc sử dụng cách thức trao đổi ion khử sắt và mangan cũng tương đối thông dụng. vì hai nguyên tố này có hóa trị hai nên dễ dàng bị hấp phụ Bởi vậy các vật liệu trao đổi ion.

Khó khăn của phương pháp này là nếu sắt và mangan bị oxy hóa Bời vì oxy thì nó sẽ bám lên các vật liệu trao đổi ion và mất tác dụng của chúng.

Bởi vậy vậy việc kiểm soát hàm lượng oxy hòa tan trong nước vào hệ thống trao đối ion là rất quan trọng.

Khử sắt bằng cách thức điện phân

Dùng các cực âm bằng sắt, nhôm cùng cac cực dương bằng đồng mạ niken và dùng điện cực hình ống trụ hay hình sợi thay cho tấm điện cực phẳng.

cách thức dùng muối polyphotphat

Polyphotphat có thể tạo nên các kết tủa sắt và mangan rất nhanh và hiệu quả. Polyphotphat được hòa trộn với liều lượng khoảng gấp 2 lần nồng độ của sắt và mangan. Tuy nhiên phương pháp dùng muối polyphotphat sẽ chưa thích hợp cho các nguồn lọc nước có hàm lượng sắt và mangan vượt quá 1 mg/l.

Các cách thức làm mềm nuoc

Quá trình làm mềm loc nuoc (khử độ cứng) có thể thực hiện bằng cách tạo kết tủa chưa tan hoặc bằng cách thức trao đổi ion. Quá trình làm mềm lọc nước cũng có thể kết hợp với quá trình khử khoáng bằng cách sử dụng màng nano cung cấp thấm. màng lọc ro cung cấp thấm áp suất thấp có thể được dùng cho việc làm mềm xu ly nuoc có TDS thấp.

cách thức làm mềm bằng kết tủa

Tác nhân làm mềm nước thường sử dụng là vôi hoặc soda. Sự lựa chọn tác nhân này hay tác nhân kia là Thuộc vào chất lượng nguồn lọc nước và tính toán kinh tế. Khi độ kiềm cacbonat chiếm ưu thế, quá trình làm mềm có thể thực hiện bằng cách tăng pH và cả CaCO3 , Mg(OH)2 đều kết tủa. Khi độ kiềm cacbonat quá thấp, hàm lượng cacbonat phải được bổ sung bằng bột soda.

Các phản ứng chính:

CO2 + Ca(OH)2 = CaCO3 + H2O

Ca(HCO3) + Ca(OH)2 = 2CaCO3 + H2O

Mg(HCO3)2 + 2Ca(OH)2 = Mg(OH)2 + 2Ca(CO3) + H2O

MgSO4 + Ca(OH)2 = Mg(OH)2 + CaSO4

Quá trình làm mềm loc nuoc bằng vôi – soda

Khi độ kiềm cacbonat không đủ để phản ứng với vôi thì cần phải cung cấp từ nguồn bên ngoài, thông thường sử dung soda bột Na2CO3. Phương trình phản ứng:

CaSO4 + Na2CO3 = CaCO3 + Na2SO4

Quá trình làm mềm bằng xút

Xút cũng được sử dụng khi độ cứng cacbonat chưa đủ để phản ứng với vôi. Sự lựa chọn dây chuyền lọc nước tinh khiết giữa soda bột và xút chưa chỉ Phụ thuộc vào lý do kinh tế mà còn Thuộc vào các yếu tố như vận hành dễ dàng hệ thống lọc và hàm lượng magiê trong nguồn nuoc .

Các phản ứng:

CO2 + 2NaOH = Na2CO3 + H2O

Ca(HCO3)2 + 2NaOH = CaCO3 + Na2CO3 +2H2O

Mg(HCO3)2 + 2NaOH = Mg(OH)2 + Na2CO3 + H2O

MgSO4 + 2NaOH = Mg(OH)2 + Na2SO4

CaSO4 + Na2CO3 = CaCO3 + Na2SO4
Khử trùng

Về nguyên lý các quá trình khử trùng có thể thực hiện bằng cách thức vật lý hoặc cách thức hóa học.

Được tìm kiếm bởi:

  • cách xử lý nước ngầm phương ngang
Tác giả: locnuocvietan

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *